HỌC LẠC, NHÀ THƠ TRÀO PHÚNG ĐẤT NAM BỘ
Huỳnh Mẫn Chi
Nếu nhắc
đến những nhà thơ trào phúng trứ danh
phương Bắc như Tú Xương, Yên Đổ… th́
Học Lạc chính là nhà thơ trào phúng cùng thời, nổi
tiếng ở vùng đất phương Nam. Dù tác phẩm
của Học Lạc để lại không nhiều,
nhưng tên tuổi của ông luôn gắn liền với
những ḍng thơ châm biếm bọn cường hào,
đả kích hội tề, lên án những kẻ làm tay sai
cho giặc… Thơ của Học Lạc thường
gắn bó mật thiết với t́nh h́nh xă hội trong
thời kỳ đầu thế kỷ XIX, thời kỳ
mà đất nước đang bị nạn ngoại xâm,
trước sự bất lực và suy đốn của
triều đ́nh nhà Nguyễn. Hiện nay ở thành phố
HCM và thành phố Mỹ Tho đều có
đường phố mang tên ông.
I - Con
đường khoa bảng thất bại
Học Lạc tên thật là
Nguyễn Văn Lạc, bút hiệu Sầm Giang. Ông sinh
năm Nhâm Dần (1842), tại làng Mỹ Chánh - tỉnh
Mỹ Tho, sau là tỉnh Định Tường (nay
thuộc xă Tân Mỹ Chánh – Thành phố Mỹ Tho - tỉnh
Tiền Giang). Dù sinh ra trong một gia đ́nh nghèo nhưng do
học giỏi nên ông Nguyễn Văn Lạc
được tuyển vào ngạch học sinh. Ngạch
học sinh (như một h́nh thức học bổng ngày
nay) của triều đ́nh nhà Nguyễn đặt ra
để khuyến khích học tập. Những ai trúng
tuyển đều được vào học ở
trường quan Đốc học. Chính điều đó,
bạn bè thường gọi Nguyễn Văn Lạc là
học sinh Lạc. Dần dần về sau, mọi
người bỏ chữ "sinh", gọi ông là
Học Lạc và tên tuổi ấy được lưu
truyền măi về sau.
Học Lạc có tài làm thơ Nôm rất giỏi, có tài
xuất khẩu thành thơ. Ông là bạn học cùng với
Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân), Bùi Hữu Nghĩa,
Phan Hiển Đạo.Theo như lời truyền miệng
của những người trong làng thuộc vùng
đất Thuộc Nhiêu, Học Lạc là một
người nhỏ nhắn, trắng trẻo. Đặc
biệt giọng nói của ông lúc nào cũng sang sảng
như chuông đổ. Ngay thẳng và khí phách, đó
đặc điểm nổi bật nhất ở tính t́nh
Học Lạc. Về sau cũng v́ tính cách này, Học
Lạc luôn rước họa vào thân. Mặt khác, bọn
cường hào thời ấy ít khi để những
người tài trí như ông yên thân an phận. Học
Lạc luôn gây cho họ sự khó chịu bằng tài
năng và trí tuệ của ḿnh. Bởi Học Lạc không
những là người có học vấn uyên thâm… ông c̣n
giỏi cả về y thuật, địa lư và cả
thuật chiêm tinh xem tướng. Nhờ vào tính cách cứng
cỏi, tấm ḷng trong sạch nên văn thơ của
Học Lạc được người đời
lưu truyền măi về sau.
Học Lạc sinh ra trong
thời kỳ đất nước vừa thoát khỏi
các cuộc nội chiến kéo dài suốt 25 năm giữa
nghĩa quân Tây Sơn và nhà Nguyễn. Công việc triều
chính luôn phải chỉnh đốn cho đến
đời Minh Mạng mới vào kỷ cương. Song
chẳng bao lâu, là các công thần khai quốc bị bạc
đăi, do sự nhũng nhiễu của đám nịnh
thần nên ḷng dân không phục triều đ́nh. Các cựu
thần của nhà Lê, các sĩ phu Bắc Hà đều
muốn khôi phục lại nhà Lê. Cho nên, giặc giă trong
nước nổi lên khắp nơi. Không những vậy,
phía Tây, phía Nam đất nước ta thời ấy luôn
bị quân Xiêm, quân Lào quấy rối. Ở Nam bộ,
thuộc hạ của Tả quân Lê Văn Duyệt,
Tổng trấn Gia Định Lê Văn Khôi, nổi lên
đánh chiếm thành tŕ, bắt và giết các quan triều
đ́nh cử vào thay nhiệm kỳ. Ngồi Bắc, dân
chúng nổi loạn ở các vùng Nam Định, Ninh B́nh,
Tuyên Quang, Thái Nguyên… Dù ở miền Nam không xảy ra
biến loạn như ở miền Trung, miền Bắc
nhưng đời sống người dân vẫn không
được an tồn. Năm 1861, ba tỉnh miền
Đông là Biên Ḥa (Đồng Nai), Gia Định (TP HCM),
Định Tường (Tiền Giang) đă rơi vào tay
Pháp. Năm 1863, triều đ́nh nhà Nguyễn cử Phan Thanh
Giản sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh này nhưng
không thành. Đến năm 1867, quân Pháp lại chiếm thêm
ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Chính v́
điều này, Phan Thanh Giản đă uống rượu
độc tự vẫn. Quân Pháp đă đánh tan các
đạo quân của triều đ́nh nhà Nguyễn,
nhưng chúng không thể dập tắt ngọn lửa
căm thù và ư chí chống giặc ngoại xâm của nhân dân
miền Nam dưới ngọn cờ khởi nghĩa
của Trương Công Định ở G̣ Công; Thủ khoa
Huân ở Mỹ Tho; Nguyễn Trung Trực ở Long An;
Đỗ Tŕnh Thoại, Vơ Duy Dương, Hương
Quản Hớn, Lê Công Kiều ở vùng Đồng Tháp
Mười… Học Lạc chính là sĩ phu sống trong
hồn cảnh rối ren ấy. Thuở thiếu thời,
ông đă được hưởng chế độ giáo
dục của triều đ́nh nhà Nguyễn, một chế
độ khuyến khích người tài tham gia thi cử.
Thế nhưng, Học Lạc thi măi không đỗ. Trước
t́nh h́nh như vậy, Học Lạc đành gác lại
chuyện thi cử. Các nho sĩ cùng thời với ông
mỗi người hành động một cách,
người th́ đứng lên chống giặc Pháp như
Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Văn Trị… Người
th́ đầu hàng, cam tâm làm nô lệ như Tôn Thọ
Tường… Số khác lại lẩn tránh tranh đấu,
chọn lối sống ẩn dật như Nhiêu Tâm.
Đặc biệt trong đó có nhà thơ Học Lạc,
ông đă chọn cuộc sống giống như Nhiêu tâm nhưng
khí phách hơn.
Khi giặc Pháp chiếm
Định Tường, Học Lạc rời quê ở
làng Mỹ Chánh về chợ Thuộc Nhiêu (thuộc
Tiền Giang ngày nay) để dạy học và làm
thuốc. Ông tưởng như vậy đă t́m
được nơi trú ẩn b́nh yên. Nào ngờ, Học
Lạc c̣n bất măn hơn trước. Những cảnh
hà hiếp, những bất công do bọn cường hào
trong làng, trong xă gây ra luôn làm ông bất b́nh.
Chuyện kể rằng,
ngày xưa trong dân gian Nam bộ thường có tục cúng
xôi. Hàng năm, đến ngày kỳ yên, các chức sắc
trong làng mỗi người phải mang đến đ́nh
làng một mâm xôi để tế thần. Tập tục
này ngày nay một số vùng nông thôn ở Nam bộ vẫn
c̣n giữ. Học Lạc từng nằm trong ngạch
học sinh của triều đ́nh nhà Nguyễn
trước đó. Cho nên đối với làng, ông cũng
là một chức sắc. V́ vậy, ông phải tuân theo
lệ làng. Năm đó, Học Lạc cũng đội
mâm xôi đến đ́nh làmg cúng như mọi năm.
Nhưng mâm xôi của Học Lạc đem ra đ́nh cúng
thần linh chỉ ghi hai chữ Thằng Lạc thay v́
phải ghi chức sắc và họ tên. Khổ nỗi, trong
làng lại có nhiều người vai trên chức
trước, họ đă lấy cớ đó quở trách Học
Lạc. Họ ghép tội Học Lạc xấc
xược, dám giễu cợt thánh thần, khinh khi
hương chức. V́ vậy xong lễ kỳ yên, làng
bắt Học Lạc phải xin lỗi các hương
chức. Lúc ra về, ông liền làm bài thơ theo thể
vần trắc và ngâm ngay bài thơ ấy cho một vài
người trong làng nghe:
Vành mâm xôi đề tên
"Thằng Lạc"
Nghĩ ḿnh ti tiện không đài các
Văn chương chẳng phải bợm mèo quào
Danh lợi không ra cái cóc rác,
Bởi thế bơ thờ thẹn núi sông
Dám đâu lúc láo ngạo cô bác,
Việc này dẫu có thấu ḷng chăng,
Trong có ông thần, ngồi cặp hạc.
Bài thơ này ngày nay vẫn
c̣n lưu truyền trong dân gian. Nhắc đến Học
Lạc, người đời thường nhắc
cả bài thơ này và ư nghĩa của nó. Nhưng
trước sự quở phạt của các hương
chức, Học Lạc nghĩ ḿnh chẳng có lỗi ǵ
cả. Bởi, ông luôn xếp ḿnh vào hàng dân dă, trên mâm xôi cúng
thần không xưng danh tánh như vậy th́ xử thế
nào? Thần linh nào lại quở trách người ngay
thẳng, trung thực. Có chăng chỉ là những kẻ
nịnh thần thích dựa vào thế giới linh thiêng
để sinh sự và ức hiếp ông.
Dù không đỗ
đạt, nhưng với danh vị "sinh viên" do
triều đ́nh nhà Nguyễn phong tặng, xem ra Học
Lạc cũng khá oai, một chức sắc ngang hàng
với xă trưởng ở miền Nam và lư trưởng
miền Bắc thời ấy. Nếu là người khác,
Học Lạc có thể dựa địa vị này
để t́m một vị thế trong làng cũng chẳng
thua ai. Trong khi đó, Học Lạc lại luôn thể
hiện tính cách của một nhà Nho khí khái, trực tính. V́
vậy, các hương chức trong làng rất ốn ghét
Học Lạc, nhưng không biết làm thế nào
để hăm hại. Thời ấy, cùng làng với Học
Lạc có ông Nhiêu Dự cũng là một nhà Nho. Nhưng so
với Học Lạc, ông này kém hơn rất nhiều
về tài và đức. Ông ta cố giành giật
được chiếc ghế hương chức.
Học Lạc và hương chức Nhiêu Dự rất ghét
nhau, luôn chống đối nhau. Một hôm, người nhà
của một bệnh nhân đến rước Học Lạc
về bắt mạch (khám bệnh). Trên đường
đi, Học Lạc phải dừng lại can ngăn
đám trẻ đang xúm lại đánh một người
Trung Hoa có tuổi để giật tiền. Bất th́nh
ĺnh, các hương chức trong làng xuất hiện, họ
bắt tất cả mọi người vào nhà việc
đóng trăng. Học Lạc bị bắt đóng
trăng giữa đ́nh làng. Được dịp, bọn
hương chức có một trận cười hả hê.
Học Lạc lại dửng dưng, ung dung đến
độ bọn quan lại ấy phải bất ngờ.
Đang lúc chịu phạt, Học Lạc nh́n sang
người ngồi bên cạnh (người Trung Hoa)
mỉm cười. Người này cũng chịu h́nh phạt
giống Học Lạc, nhưng khuôn mặt lại rất
buồn bă và lo âu. Học Lạc liền "xuất
khẩu" ngay bài thơ Ngồi trăng và ngâm
tặng cho người xa lạ kia như để xoa
dịu mọi ưu phiền:
Hóa ở An Nam, lứ khách
trú
Trăng trói lăng xăng nhau một lũ
Ngồi mặt ngỡ ngàng bạn Bắc, Nam
Trong tai, cắc cớ xui
đồn tụ.
Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh
Ông Bổn không thương người bảy
phủ.
Phạt tạ xong rồi trở lại nhà,
Hóa thời hốt thuốc, lứ bông vụ
Ngày nay, người
đời sau không biết nhiều về cuộc
đời riêng của nhà thơ Học Lạc. Trải qua
chiến tranh, tư liệu viết về ông bị thất
lạc. Một mặt thời ấy do thiếu
phương tiện phổ biến, một mặt
đời con cháu ông không chú trọng ǵn giữ. Nhưng
người đời vẫn truyền tụng măi tính
nết và sự tảo tần về người vợ
tài sắc của Học Lạc, đó là nữ thi sĩ
Bảy Khánh. Bà không những đảm đương lo
trong lo ngồi cuộc sống cho Học Lạc trong
những ngày rơi vào hồn cảnh sống dở
chết dở mà c̣n là niềm an ủi và nguồn hạnh
phúc lớn nhất của ông. Đối với ông, bà
Bảy Khánh chính là người luôn chia sẻ mọi
niềm vui và nỗi buồn trong cuộc đời
của Học Lạc. Một đời trọn vẹn
cho sự nghiệp thi phú, trong đó phải kể
đến t́nh yêu của Học Lạc dành cho vợ. Khi
Học Lạc từ giă cơi đời, nữ sĩ Bảy
Khánh có làm một bài thơ khóc
chồng.
Đùng đùng sóng gió kéo
nương hơi
Chiếc bách lênh đênh mới nửa vời
Lố xố hoa thêu khoan lại khúc
Lao xao gấm vẽ nhặt rồi lơi
Mảnh buồn lửng thửng trôi trên nước
Bánh nguyệt chơi vơi đứng giữa
trời
Chèo hạnh so le ngơi mái nhịp
Thuyền t́nh thong thả, dễ buôn khơi
II - Những vần thơ trào phúng...
Học Lạc không thành công
về khoa bảng, nhưng phải thừa nhận ông vang
bóng một thời về văn chương thi phú. Xét
về mặt thi phú, thơ của Học Lạc lại
không mang tính chiến đấu như thơ của các nhà
thơ Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Văn Trị… Nếu
Nguyễn Đ́nh Chiểu cổ động tinh thần
chiến đấu và khích lệ ḷng yêu nước của
nhân dân Nam bộ, Phan Văn Trị lại cương
quyết vạch trần những kẻ theo giặc sát
hại dân tộc, bán rẻ non sông cho giặc Pháp th́
Học Lạc lại chú ư và vạch ra những cái gọi
là rởm đời, những thói hư tật xấu
của bọn cường hào thôn xóm làng xă.
Dù không được ghi
chép và lưu giữ, nhưng những bài thơ mang tính châm
biếm, đả kích bao giờ cũng được
người đời truyền miệng. Sự truyền
miệng ấy, nhiều khi sai lạc đôi chút, gây trái ư
trái nghĩa với tác giả, nhưng vẫn phản ánh
được một phần đời sống xă
hội lúc ấy. Phải thừa nhận rằng,
những vần thơ của ông đă góp phần
đấu tranh cho cuộc sống cơ cực của
người dân nông thôn thời ấy. Chính điều
đó, thơ của Học Lạc và tên tuổi của ông
vẫn sống măi với thời gian, đặc biệt
là cuộc sống nông thôn.
Rất nhiều nhà thơ
đă khai thác h́nh ảnh con trâu bên luống cày, trên
đồng ruộng trong quá tŕnh lao động. Nhưng
với Học Lạc lại khác, h́nh ảnh con trâu
xuất hiện trong thơ ông lại mang một ư nghĩa
khác, chính là bọn cường hào, hội tề.
Mài sừng cho lắm
cũng là trâu
Ngẫm lại mà xem thật lớn đầu
Trong bụng tham lam ba lá sách
Ngồi cằm lém đém một cḥm râu
Mắc mưu đốt đít tơi bời
chạy,
Làm lễ bôi chuông nhớt nhác sầu,
Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ
Năm giây đàn gẩy biết chi đâu.
Đây là một bài thơ
trào phúng khá độc đáo và sâu xa. Học Lạc đă
mượn h́nh ảnh con trâu để nói về bọn
cường hào hương chức. Bởi thơ trào phúng
là một trong những thể loại văn học đă
góp phần rất mạnh mẽ trong việc chống
đối và đả kích bọn cường quyền áp
bức.
Con trâu rồi lại đến Con tôm,
Học Lạc lại ám chỉ những nhân vật quan
làng, quan xă ở một khía cạnh khác, cường
điệu nhưng xác thực.
Chẳng phải
vương công chẳng phải hầu,
Học đ̣i đai kiếm lại mang râu
Khoe khoang mắt đỏ trong ḍng bích
Chẳng biết ḿnh va cứt lộn đầu
Bài thơ này xuất
hiện hàng thế kỷ nhưng người đọc
lại thấy rất mới ở phong cách, cấu tứ
và ngôn từ. Dù bài thơ dè bỉu và chê bai bọn hội tề
thời phong kiến nhưng thế hệ người
đọc ngày nay vẫn h́nh dung và nh́n thấy đâu đó
những kẻ khốc lác, kém tài năng thường hay
hợm ḿnh trong thơ của Học Lạc. Con tôm mắt
đỏ bơi lội giữa ḍng sông mênh mông xanh
biếc, đôi càng và bộ râu oai phong nhưng không biết
trên đầu ḿnh chứa tồn chất bă. Có thể nói,
câu thơ cuối là thể hiện đặc sắc
nhất. V́ tác giả đă phơi bày "trí tuệ" của
những kẻ hám danh hám tài, dựa quyền ỷ thế
hà hiếp dân lành. Những người bất tài nhưng
lại giữ quyền cao chức trọng.
Một lần từ
Thuộc Nhiêu – Tiền Giang lên Sài G̣n, Học Lạc t́nh
cờ gặp đám tang của Đốc phủ sứ
Huỳnh Công Tấn. Ông dừng lại quan sát và chợt
nhớ đến anh hùng Trương Định. Bởi
Đốc phủ sứ Huỳnh Công Tấn trước
đó chính là thuộc hạ của Trương
Định, nhưng sau phản bội Trương
Định và dẫn đường cho quân Pháp đánh
lại Trương Định ở G̣ Công vào năm 1864.
Cho nên nh́n đám tang của Huỳnh Công Tấn có đông
đảo quan Tây và tay sai đưa tiễn, Học
Lạc đă xuất khẩu thành thơ
Sống th́ bắt thỏ,
thỏ kêu rêu
Thác thả ḍng sông xác nổi phều
Vằn vện xác c̣n phơi lững đững
Thúi tha danh hăy nổi lều bều
Tới lui bịn rịn bầy tôm tép,
Đưa đón lao xao lũ quạ diều.
Một trận gió dồn cùng sóng dập,
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu!
Đọc xong bài
thơ châm biếm, người đọc phải công
nhận rằng, Học Lạc quả là một tài năng
thiên phú. Nh́n cảnh đời trái ngang, thương tâm,
Học Lạc có thể cho ra đời ngay bài thơ
đặc sắc như vậy. Về nội dung lẫn
kết cấu, bài thơ đă khắc họa khá
đậm nét về thân thế và số phận của
một kẻ biến ḿnh thành tên phản phúc, tay sai
giặc. Cho dù sống có “vinh quang” mấy, nhưng một
khi đă biến ḿnh thành tội ác, khi thác đi vẫn là
tội ác. Tiếng nhơ lúc sống làm sao, lúc chết
cũng măi măi mang theo tiếng nhơ ấy.
Không chỉ dùng lời
lẽ châm chọc để đả kích bọn bất
tài, khi dời nhà từ làng Mỹ Chánh (nay thuộc xă Tân
Mỹ Chánh – thành phố Mỹ Tho) về làng Thuộc Nhiêu
(nay thuộc huyện Cai Lậy – tỉnh Tiền Giang),
Học Lạc luôn cay đắng trước hồn
cảnh của xă hội. Bởi ông nh́n đâu cũng
thấy bóng quân thù, giặc ngoại xâm. Giặc giă ở
đây c̣n là nạn áp bức bóc lột, h́nh ảnh của
bọn cường hào.
Ngó ra ngồi ngơ gió hiu hiu,
Xem thấy cảnh trời, trời đă chiều
Ham hở trẻ con đua múa hát
Đứa th́ làm tướng đứa làm yêu.
Những câu thơ đầu
chỉ là cảnh trời chiều, nhưng đến
đoạn cuối th́ ư đồ của tác giả đă
khác. Ông đă mượn h́nh ảnh của trẻ con
để ám chỉ và mỉa mai những kẻ lợi
dụng thời cuộc ra tay áp bức dân lành trong thời
kỳ giặc Pháp xâm chiếm nước ta.
Trong khi đó, những
người anh hùng gan dạ khác lại hiên ngang, dũng
cảm đứng lên chống giặc ngoại xâm.
Đất linh bồi
đắp cuộc Ba Gịng,
Cảnh Thuộc Nhiêu nhiều khách ngộp trông
Đường thẳng ngựa biêu chân ngán
bước,
Rạch cùn cá lội mến quên sông.
Tướng văn giỏi kẻ thêu rồng cọp
Miễu vơ thờ tay chí bá ṭng
Cứng cát thú quê vui tục cũ,
Thềm dâu ruộng lúa dễ cho không.
Bài thơ này ra đời
trong lúc Học Lạc sống ở Thuộc Nhiêu dạy
học và làm thuốc. Bài thơ c̣n ca ngợi tinh thần
yêu nước của Nguyễn Hữu Huân. V́ thời
điểm Học Lạc ẩn ḿnh ở chốn thôn quê,
sống cuộc đời lặng thầm cũng là lúc
Nguyễn Hữu Huân trỗi dậy đánh thực dân Pháp.
Bài thơ ư nói những người có học gặp lúc
quốc biến, cả văn lẫn vơ song tồn như
Nguyễn Hữu Huân đă xông vào cuộc. Ngồi anh hùng
Nguyễn Hữu Huân, Học Lạc c̣n ca ngợi nhiều
địa danh lúc ấy như chợ Thuộc Nhiêu,
một nơi có rất nhiều chí sĩ yêu nước và
tài ba.
Đọc qua những bài
thơ của Học Lạc, nếu xét về khía cạnh
một nhà Nho, một lương y, chúng ta c̣n có thể xem
ông là bậc tài đức. Bởi v́ trên từng vần thơ
của ông, người đọc luôn t́m thấy một
nỗi đau đáu của một người bất
lực trước thời cuộc. Sự bất lực
ấy, Học Lạc chỉ c̣n cách là bộc bạch qua
văn thơ. Ông đă đau, nỗi đau trước
cảnh nước mất nhà tan, nỗi đau
trước cuộc sống lầm than của những
người dân lương thiện. Tất cả
những nỗi đau ấy luôn đeo đẳng và
cắn rứt lương tâm. Để rồi hậu
thế ngày sau, họ ôn lại những trang sử bằng
thơ của ông. Những trang sử khắc họa
bối cảnh xă hội một thời đầy gian
khổ, áp bức và bóc lột. Những trang sử ấy
như vũ khí chiến đấu của Học Lạc.
III - Những tác
phẩm chưa mang tên tác giả
Thời ấy, v́ Học
Lạc thường làm thơ châm biếm nên những tác
phẩm của ông ra đời ít được báo chí
sử dụng. Chính v́ vậy, vào khoảng năm 1929, ông
Phan Khôi chủ bút tờ báo Phụ nữ tân văn có
nhận hai bài thơ mang tên tác giả là Học Lạc do
ông Ṭng Sơn chuyển đến ṭa soạn bằng
thư. Rất tiếc, hai bài thơ đó của Học
Lạc đă bị ông Ṭng Sơn chỉnh sửa câu cú và
vần điệu rất nhiều. Bởi theo ông Ṭng
Sơn, hai bài thơ của Học Lạc đọc trúc
trắc, khó nghe. V́ vậy, ông Ṭng Sơn đă sửa
chữa và thay đổi đôi chút cho dễ hiểu.
Để rồi về sau, ông Phan Khôi đă trả lời
với ông Ṭng Sơn ngay trên mặt báo: "Tôi rất
tiếc là không thấy được nguyên văn hai bài
thơ của ông Học Lạc. Tôi không biết nó trúc
trắc đến mức nào, chứ hai bài thơ ông
sửa đây th́ trúc trắc quá lắm. Sự việc này
đáng là điều răn kẻ khác, không ai
được tự ư sửa thơ của người
xưa, nếu không phải thơ của ḿnh. Đă
thế, cả hai bài thơ này đều non nớt,
vụng về, trùng ư và vần điệu. Tôi đốn
thơ của ai chứ không phải của Học Lạc"
. Chính v́ vậy, cho đến nay, độc giả
vẫn chưa t́m được nguyên bản của bài
thơ trên.
Năm 1945, sau khi
Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương,
một nhóm nhà báo từ Sài G̣n – Gia Định xuống Cai
Lậy - Mỹ Tho và đă được ông giáo Nguyễn
Văn Nhă đọc cho nghe mấy bài thơ trào phúng
rất thú vị. Những nhà báo này cũng không quên ghi chép
lại những bài thơ ấy. Ông giáo Nguyễn Văn Nhă
cho họ biết, những bài thơ ấy do chính Học
Lạc sáng tác. Theo ông Nguyễn Văn Nhă, hai bài thơ
dưới đây do Học Lạc làm ra nhưng không dám
đề tên tác giả, v́ ông đă nêu thẳng tên tuổi,
danh phận của những kẻ có quyền lực.
- Bài vịnh quan thượng
Nguyễn Kim Tri
Nguyễn thương quan
thượng Nguyễn Kim Tri
Khôn khéo không ai dám sánh b́
Gói bánh cho chen bưng dưới chợ
Trồng trầu tay mót bán trong ty
Bề nhà vừa đủ cho vừa vợ
Việc nước hư nên chẳng kể ǵ
Cái án hạp binh nên xé thịt
Đành ăn hối lộ lại tha đi.
Theo ông Nguyễn Văn Nhă
giải thích, bài thơ này nói về ông Nguyễn Kim Tri,
tức là Tổng đốc Định Tường. Ông ta
chính là một kẻ hà tiện và tham ô khét tiếng. Dù ông
đă giữ đến chức đại thần như
thế, nhưng hàng ngày vẫn bắt buộc vợ con làm
bánh mang ra chợ bán. Không những vậy, ông Nguyễn Kim
Tri c̣n bắt lính trồng trầu ở trong dinh tổng
đốc của ḿnh để kiếm huê lợi. Ông
chẳng nghĩ ǵ đến việc dân việc
nước, chỉ thấy mưu lợi cho riêng ḿnh. Ngay
cả người thân, vợ con ông cũng đối
xử không ra ǵ. Bài thơ này Học Lạc c̣n phản ánh
cuộc sống gia đ́nh trong xă hội đương
thời.
Không những làm thơ nói
về ông tổng đốc cường quyền, Học
Lạc c̣n làm thêm bài thơ để nói lên sự đàn áp
dă man của ông Hộ đốc. Đây cũng là một
bài thơ trào phúng, miêu tả rất thực từ dáng
dấp đến hành động của ông Hộ
đốc.
- Bài vịnh quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn
Có quan hùng dũng Nguyễn
Công Nhàn
Hùng dũng ai mà lại nhát gan
Giặc tới Bến Tranh run lập cập
Tàu vô Cửa Tiểu chạy ḅ càng.
Mưu thần trước biết ngang sông chắn
Kế giữ sau toan đóng củi hàng
Thất thủ muốn liều cho giữ tiết.
Ngặt v́ con, vợ bận chưa an.
Trong bài thơ, Học
Lạc dùng từ quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn, tức
là một vơ quan cầm binh ở Mỹ Tho thời ấy,
với chức vụ Hộ đốc như một ám
chỉ quan hùng dũng ư nói tính khí ngang tàng, nóng nảy và hay
đánh đập thường dân, lính tráng dưới
quyền. Không riêng ǵ Học Lạc, người
đời cũng gọi ông Nguyễn Công Nhàn là quan hùng dũng
như ám chỉ chứng bệnh quan liêu của ông. Học
Lạc mỉa mai sự hèn nhát của quan Hộ
đốc Nguyễn Công Nhàn. V́ vào tháng 2 năm Tân Dậu
1861, sau khi chiếm Gia Định, thực dân Pháp đă quay
về phía Tây để đánh chiếm Mỹ Tho.
Tướng giặc Charner một mặt cho tàu thủy
vượt đường sông tiến đánh các
đồn trên sông Tiền, một mặt cho tàu thủy
vượt đường biển để vào sông
Cửu Long và tiến thẳng vào Mỹ Tho. Quan Hộ
đốc Nguyễn Công Nhàn biết tin, ông đă cho quân
đóng cọc ở sông Tiền pḥng thủ. Thế
nhưng, quân Pháp đă tràn đến nhổ cọc và
vượt vào đất liền. Thế là Hộ
đốc Nguyễn Công Nhàn đă lén bỏ chạy một
ḿnh và sau đó đă ra đầu hàng giặc Pháp.
Ngồi các bài thơ
đả kích sự áp bức bóc lột, bộc lộ
nỗi đau của người mất nước,
Học Lạc c̣n sáng tác nhiều thể loại thơ mang
chủ đề khác. Ngay cả những ngày hành nghề
thầy thuốc , cây, hoa, lá, gốc, rễ… từ
những bài thuốc gia truyền cũng đem đến
cho Học Lạc nguồn cảm hứng.
Căm thay lồi Mộc
tặc
Giận mấy đảng Vô vi
Bạc tiền lũ nó Đương quy
Vong ngăi quên ơn Đương quy
Quân tử sao không sợ xấu
Nữ trinh chẳng biết xét thân
Hơi Trầm hương chẳng muốn gần
Ḷng Cam thảo người nào chẳng dụng
Tiếc thay những người Quán chúng
Uổng thay mấy kẻ Khuyết minh
Đạo quân vương Tục đoạn vong t́nh.
Niềm Phụ tử nỡ sao bội nghĩa.
Xưa tổ phụ mở mang Thục địa
Vầy con cháu cách mặt Thiên môn
Khen những lồi Bạch khấu rằng khôn,
Đua tùng đẳng Tây hoa rằng giỏi.
Bán hạ mê theo làm mọi,
Sanh cương bán nạp khứ trừ,
Đất Kỳ nam sự nghiệp sui hư,
E thần khúc sau này khó ở
Nhân sâm hỡi xa xôi khôn đỡ,
Cam toại thương dân chúng chịu nghèo.
Sài hồ ngày tháng làm eo,
Binh lang lại năm chày tháng vắng.
Trống lịnh Xa tiền mở trận,
Đêm ngày trông đợi Pḥng phong.
Gan dạ này Hậu phác rèn ḷng,
Dặng chờ đón Huỳnh kỳ trổ mặt.
Xin thánh thổ hốt thang Tứ vật
Thiếu vi chi làm lễ Thập tồn.
Tới Đại hồi trăm họ b́nh an,
Lồi Bạch khấu làm ma Kinh Giái.
Để những Sà sàng đảng dại
Khôn t́m phương Sanh địa lánh thân,
Dầu lên trời cũng Kiết cánh nan phân….
Có lẽ, bài này là một
trong những bài thơ khó nhớ của Học Lạc nên
không được phổ biến và người
đọc ít biết đến. Thế nhưng, xét về
góc độ giá trị nghệ thuật, đề tài này
giới chuyên môn thường đánh không cao bằng
mảng đề tài thơ trào phúng của Học Lạc.
Mặt khác, tên tuổi của Học Lạc thường
gắn liền với ḍng thơ đả kích, phê phán
chế độ đương thời. Chính v́ vậy,
ngồi số lượng thơ trào phúng bị thất
lạc, những bài thơ thuộc dạng đề tài
khác, đôi khi, công chúng không công nhận là của Học
Lạc. Điều này đối với những
người cầm bút, đặc biệt trong hồn
cảnh của Học Lạc th́ chính là một mất mát,
thiệt tḥi lớn. Càng xót xa hơn, người ấy
lại là một trí thức yêu nước phải sống
trong cảnh ẩn dật, bế tắc trước
thời cuộc.
1/2009
Nguồn: Hội Nhà Văn VN